nông nghiệp nông dân nông thôn

Ngày 09/06/2018 09:08:23

ngày 9/6/2018

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

HND HUYỆN THIỆU HÓA

BCH HND XÃ THIỆU LÝ

*

Số: - BC/HNDX

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Thiệu Lý, ngày 08 tháng 03 năm 2018

Dự thảo

BÁO CÁO

CỦA BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN XÃ KHÓA IX

TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023


Thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân, nhiệm kỳ 2012 -2018, tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức: tình hình kinh tế có nhiều thay đổi; thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn những vấn đề khó lường; hàng tiêu dùng tăng cao; giá hàng hóa nông sản, thực phẩm thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất và đời sống sinh hoạt của nông dân.

Song được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Hội Nông dân huyện; tạo điều kiện của Chính quyền, phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị kinh tế trong xã; với tinh thần trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân trong xã đã phát huy truyền thống văn hóa, cách mạng, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, năng động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đoàn kết tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền trong sạch vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương.

Đại hội Hội Nông dân xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 – 2023, là Đại hội của tinh thần “Đoàn kết, đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đáng là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lýgiàu mạnh, văn minh”.

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI IX, NHIỆM KỲ 2012 - 2018

A.TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

Nhiệm kỳ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của chính quyền; sự phối hợp của MTTQ, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội nên đã động viên nông dân, trong việc khắc phục khó khăn, cùng với những chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn của huyện, do đó nông nghiệp, nông dân, nông thôn xã nhà đã đạt được thành tựu to lớn, góp phần ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nhiều loại cây trồng năng suất, chất lượng, hiệu quả cao được đưa vào sản xuất thâm canh; cơ giới hóa đồng bộ được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp. Về trồng trọt diện tích canh tác 257 ha, chủ yếu là trồng lúa và cây rau màu. Năng suất lúa bình quân hàng năm đạt 12,5 tấn/ha/năm, tổng sản lượng quy thóc đạt 3.200 tấn, bình quân 689kg/người/năm, giá trị sản xuất trên 1ha canh tác nhiệm kỳ trước là 78 triệu đồng đến nay đạt 91,4 triệu đồng. Chăn nuôi tăng cả về sản lượng, chất lượng, giá trị và từng bước phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp; tổng đàn trâu bò hằng năm là 389 con,trong đó có 372 con bò sinh sản, tổng đàn lợn hằng năm có 2250 con,trong đó có 519 con lợn nái; gia cầm 22.000 con; trên địa bàn xã có 12 trang trại, gia trại; chăn nuôi cá tiếp tục được đầu tư thâm canh trên diện tích 11,5ha, diện tích ao hồ, sản lượng hằng năm ước đạt 20 tấn. Thu nhập từ chăn nuôi ước đạt 11,2 tỷ đồng.

Ngành nghề dịch vụ ở nông thôn ngày được củng cố, mở rộng quy mô, hoạt động kinh doanh, dịch vụ thương mại được quan tâm, các loại hình kinh doanh dịch vụ tại chỗ như chế biến lương thực, thực phẩm, sửa chữa cơ khí, buôn bán hàng tạp hóa, kinh doanh vật tư nông nghiệp, vật tư xây dựng, đại lý thức ăn chăn nuôi, vận tải hành khách, lao động làm nghề xây dựng và làm ở các công ty, xuất khẩu lao động đến nay toàn xã có 175 người, tổng thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ việc làm nhiệm kỳ qua đạt 116 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%. Tỷ trọng nông nghiệp hiện nay 22% ; công nghiệp - xây dựng 25%; dịch vụ thương mại 53%. Thu nhập bình quân đầu người 29,2 triệu/người/năm, tăng 12 triệu đồng so với năm 2012 mới chỉ đạt 17,2 triệu đồng.

Tình hình nông dân, nông thôn ổn định. Nông dân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Nông dân ngày càng khẳng định là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và tham gia xây dựng nông thôn mới; Cơ sở hạ tầng nông thôn và các công trình phúc lợi được đầu tư, như giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… khang trang, hiện đại.

Tuy nhiên, đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn thấp so với vị trí, tiềm năng và nhu cầu phát triển; Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân tuy có bước cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn. Nông dân khó tiếp cận các chính sách tín dụng của Nhà nước dẫn đến thiếu vốn sản xuất, kinh doanh…

B. KẾT QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỘI; VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP; XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN

I. CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỘI

1. Công tác tuyên truyền, giáo dục, hính trị tư tưởng

Xác định công tác tuyên truyền giáo dục là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, nhiệm kỳ qua Hội đã tập trung tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương và Nghị quyết của Hội nhất là các nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXVIII - XXIX; cuộc bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII; Chỉ thị 03, 05 của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt” các mô hình, điển hình tiên tiến, nhiệm vụ công tác Hội đến hàng nghìn lượt cán bộ, hội viên, nông dân tham gia. Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân; gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội.. qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chính trị của cán bộ, hội viên, nông dân trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương. Với 108 buổi tuyên truyền, số lượt người tham gia trên 8000 người.

2. Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh

Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội là nhiệm vụ then chốt của Hội, trong đó công tác phát triển hội viên được Hội nông dân xã đặc biệt quan tâm. Trong nhiệm kỳ qua đã kết nạp 125 hội viên vào hội, nâng tổng số hội viên toàn xã lên 890 Hội viên, tỷ lệ tập hợp đạt 81,2% so với hộ nông nghiệp, vượt chỉ tiêu Đại hội VII đề ra là 17%, chất lượng hội viên được nâng lên. Có 101 hội viên là đảng viên tham gia sinh hoạt trong tổ chức Hội, chiếm tỷ lệ 41,5% tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ, có 65 đảng viên là hội viên nông dân tham gia công tác xã hội, phần lớn cán bộ chủ chốt của Đảng, Chính quyền các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế là hội viên nông dân. Tham gia Cấp ủy 9 đồng chí; đại biểu Hội đồng nhân dân 19 đồng chí; Chi ủy chi bộ 13 đồng chí, các ban, ngành, đoàn thể chính trị xã hội, các đơn vị kinh tế 25 đồng chí. Do đó chất lượng hội viên được nâng lên, hội viên tích cực tham gia, thực hiện các phong trào do Hội phát động, từ đó tạo nên sự gắn kết, thúc đẩy công tác xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh.

Các Chi hội duy trì và đổi mới nội dung sinh hoạt tập trung vào phổ biến, tuyên truyền chủ trương Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trao đổi phổ biến kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh giỏi, đóng góp xây dựng quỹ hội và quỹ hỗ trợ nông dân, động viên giúp đỡ hội viên nghèo vượt khó vươn lên,

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 30/12/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh Thanh Hóa, giai đoàn 2015 - 2020”. Hội đã tham mưu cho Cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện đầu tư trang bị máy tính làm việc và các điều kiện cần thiết đảm bảo hoạt động của Hội. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ Hội được quan tâm. Tham mưu cho cấp ủy cử 1 đồng chí đi học trung cấp Trung cấp chính trị. Công tác xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ hội được cấp hội quan tâm chỉ đạo. Kịp thời kiện toàn Ban chấp hành, Ban thường vụ và chi hội trưởng, chi hội phó đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định. Trong nhiệm kỳ đã kiện toàn, bầu bổ sung Ban Thường vụ 01 đồng chí là Chủ tịch Hội, 02 đồng chí Chi hội trưởng, vì vậy chất lượng hoạt động của Hội ngày càng được nâng cao.

Công tác xây dựng quỹ Hội được thực hiện tốt, có 100% chi Hội xây dựng được quỹ Hội do hội viên tự nguyện đóng góp; việc quản lý và sử dụng quỹ Hội thực hiện đúng nguyên tắc và theo đúng Nghị quyết của Hội đề ra. Đến nay, tổng quỹ toàn xã có 89 triệu đồng, trong đó quỹ do Hội nông dân xã quản lý là 1,5 triệu đồng, các chi hội là 87,5 triệu đồng, bình quân gần 100.000 nghìn đồng/1 hội viên.

Quỷ hỗ trợ nông dân trong nhiệm kỳ Hội đã tổ chức vận động quyên góp, hội viên đã tham gia đóng góp được 30 triệu đồng nộp về huyện Hội quản lý theo quy định của Trung ương Hội. Hiện nay Hội nông dân xã làm hồ sơ đề nghị huyện Hội cho hội viên vay quỹ hỗ trợ nông dân với số tiền 30 triệu đồng phát triển sản xuất mô hình trồng cây dược liệu và 300 triệu đồng quỹ HTND tỉnh về “ Chăn nuôi bò sinh sản đảm bảo vệ sinh môi trường”.

3. Công tác kiểm tra

Công tác kiểm tra được duy trì thường xuyên. Trong nhiệm kỳ Hội chú trọng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, đã xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát theo định kỳ, đã kiểm tra 18 lần ở các chi hội. Nội dung kiểm tra: tập trung về công tác xây dựng Hội và thực hiện các chỉ tiêu thi đua, thực hiện Điều lệ của hội; công tác quản lý vốn, quỹ, quản lý sử dụng các nguồn vốn vay Ngân hàng CSXH; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Qua công tác kiểm tra đã kịp thời phát hiện, điều chỉnh những sai sót trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

4. Công tác thi đua khen thưởng

Xác định công tác thi đua khen thưởng là nguồn cổ vũ thiết thực cho việc tổ chức tốt mọi phong trào của Hội đề ra. Hàng năm, căn cứ nhiệm vụ được giao, Hội xây dựng kế hoạch triển khai, phát động thi đua, giao chỉ tiêu cho từng chi hội và đăng ký thi đua đến cán bộ hội viên nông dân. Cuối năm tổ chức bình xét biểu dương cho các tập thể cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hội và phong trào nông dân. Trong nhiệm kỳ biểu dương, khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tập thể, và cấp giấy chứng nhận hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi cấp xã cho hàng trăm lượt hộ.

Nhiệm kỳ qua các cấp Hội được Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp tặng: Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng 9 kỷ niệm chương “ Vì giai cấp Nông dân Việt Nam”; Hội nông dân huyện tặng 07 giấy khen cho tập thể, 07 cá nhân; hàng năm Hội đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh.

II. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI NÔNG DÂNTRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1. Phong trào Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự phối hợp của Chính quyền, phong trào Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi tiếp tục phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa trong nhiều lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn và đã đạt được những kết quả to lớn, tạo động lực khích lệ, động viên hội viên, nông dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, đổi mới cách nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn liếng để đầu tư phát triển sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Hội nông dân đã có nhiều biện pháp chỉ đạo: tuyên truyền, vận động hội viên chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức dạy nghề, tín chấp cho nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi… Vì vậy, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phong trào, số hộ nông dân đăng ký tham gia phong trào ngày càng nhiều, số hộ gia đình đạt sản xuất kinh doanh giỏi hàng năm tăng lên

Năm 2012 có 635 hộ đăng ký và có 425 hộ đạt tiêu chuẩn hộ gia đình SXKD giỏi, đến năm 2017 có 711/1095 hộ nông dân đăng ký tham gia bằng 65% tổng số hộ nông nghiệp. Kết quả có 492 hộ đạt tiêu chí gia đình SXKD giỏi các cấp

Trong đó: + Đạt tiêu chí cấp huyện 20 hộ = 2,8%

+ Đạt tiêu chí cấp Tỉnh 20 hộ = 2,8%

+ Đạt tiêu chí cấp xã là 452 hộ = 63,5%

Nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh có mức thu nhập từ 100 đến 200 triệu đồng/năm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp điển hình như hộ ông Hai, ông Huấn, ở thôn 1, chăn nuôi trang trại như hộ ông Khôi thôn 1, ông Siêu thôn 3; mô hình trồng hoa cây cảnh: hộ Anh Thuật, Bà Thức thôn 1…mô hình trồng cây dược liệu: hộ ông Tương thôn 8; kinh doanh dịch vụ vật liệu xây dựng hộ ông Chương, ông Thôn thôn 6, anh Hưng thôn 8…. vv .Đặc biệt có hơn 40 hộ có thu nhập đạt trên 300 triệu đồng/năm, điển hình là như hộ ông Hải, ông Đề, Bà Điểm thôn 2, ông Chương, A Hưng…., Vận tải hành khách anh Trường, anh Dũng; sản xuất nghề mộc, đồ nhựa gia dụng như hộ ông Hiển thôn 6, anh Uy thôn 3…

Với ý thức tự lực, tự cường phát huy nội lực, phấn đấu vươn lên của mỗi hộ gia đình quyết tâm làm giàu chính đáng bằng nhiều hình thức trong phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ, là một xã có đa ngành nghề, nông dân đã vận dụng sáng tạo, phù hợp với chủ trương phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nên trong những năm qua ngày càng xuất hiện thêm nhiều cách nghĩ, cách làm hay của nông dân trong xã đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, Quốc phòng an ninh của địa phương. Hằng năm thực hiện phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi.

Thực hiện Quyết định số 2382/2011/QĐ-UBND, ngày 22/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa “Quy định đối tượng, tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giỏi, Hội Nông dân tổ chức phong trào giỏi giai đoạn 2011 – 2016”; “2015 – 2017”.

2. Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn giúp nông dân phát triển sản xuất

Hội Nông dân đã Phối hợp với công ty phân bón Thần Nông dịch vụ phân bón chậm trả phục vụ nhân dân sản xuất được hơn 200 tấn, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý công khai, phục vụ nông dân phát triển sản xuất. Phối hợp với NHNN&PTNT và NHCS-XH thực hiện tốt công tác thẩm định cho vay vốn và quản lý vốn vay đúng quy định và hướng dẫn của nhà nước, dư nợ luân chuyển hàng năm của 2 Ngân hàng 13 tỷ đồng; Phối hợp với trung tâm học tập cộng đồng, Hội làm vườn, cùng HTX Dịch vụ nông nghiệp, các ban ngành, các doanh nghiệp tổ chức 25 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất, chăn nuôi và sử dụng chế phẩm sinh học, tuyên truyền, tập huấn vệ sinh môi trường, tư vấn giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động cho gần 2000 lượt hội viên, nông dân.

III. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI NÔNG DÂN THAM GIA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI

1.Phong trào nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Nghị quyết 04 – NQ/HU của BTV Huyện ủy Thiệu Hóa, ngày 15/4/2011 “Về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 – 2020”; Hội Nông dân xã đã tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia thực hiện 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm thiết thực như: hiến đất, đóng góp tiền của, ngày công lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới do xã phát động. Năm 2016 xã nhà đã được công nhận xã NTM. Trong năm qua hội tiếp tục tuyên truyền vận động hội viên tích cực tham gia xây dựng củng cố để nâng cao các tiêu chí đến nay vẫn giữ vững 18/18 tiêu chí xây dựng NTM.

Kết quả: Có 90 % Hội viên, nông dân tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới ở cơ sở; tham gia đóng góp ngày công lao động, xây mới, chỉnh trang và sửa chửa nhà ở, tham gia làm đường giao thông nông thôn, đường làng, ngõ xóm được 8,37 km; Giao thông nội đồng là 9,9 km; Hệ thống thủy lợi, kênh mương đã được kiên cố hóa là 6,7 km với giá trị hàng chục tỷ đồng. Hàng năm nhân dân tham gia nạo vét, tu sửa kênh mương nội đồng, giá trị hàng trăm triệu đồng. Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế trên địa bàn xã là 3744/4302 người, đạt 87%. Hội đã tuyên truyền động hội viên, nông dân tích cực tham gia thu gom và xử lý vỏ bao thuốc BVTV ở các cống đặt ngay đầu trục đường; đồng thời thực hiện quy định về công tác vệ sinh môi trường, giữ gìn cảnh quan, đường làng ngõ xóm đảm bảo vệ sinh xanh sạch đẹp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Phối hợp tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 về tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống thiên tai ổn định đời sống dân cư, vận động hội viên thực hiện tốt NQ 06 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ để đầu tư mở rộng sản xuất, tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế nông nghiệp liên kết, theo quy hoạch của địa phương. Đến nay đã và đang có 9/9 thôn thực hiện chuyển đổi ruộng đất, đã hình thành các mô hình sản xuất tập trung, như vùng lúa liền vùng cùng trà ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, sản xuất rau màu, quy hoạch trang trại ở khu riêng.

2. Phong trào nông dân tham gia bảo đảm Quốc phòng - An ninh

Nhiệm kỳ qua, Hội nông dân xã đã tăng cường phối hợp với chính quyền, công an, quân sự tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; động viên con, em lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc. Trong nhiệm kỳ có 35 thanh niên nhập ngũ đảm bảo hoàn thành 100% chỉ tiêu giao. Có 87 hội viên, nông dân tham gia tổ ANXH, 9 hội viên tham gia tổ bảo vệ ANTT thôn, nên những vụ việc mâu thuẫn, thắc mắc trong nội bộ nhân dân được hòa giải kịp thời và tích cực tham gia công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở khu dân cư.

Kết quả phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.

3. Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và đô thị văn minh”; Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hội viên, nông dân.

Thực hiện phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá và đô thị văn minh”,hàng năm Hội phối hợp với chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động hội viên nông dân đăng ký thi đua xây dựng gia đình văn hoá, tích cực tham gia xây dựng hương ước, quy ước, xây dựng làng, xã văn hoá. Thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội thường xuyên tuyên truyền, vận động hội viên nông dân thực hiện nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao. Tỷ lệ gia đình hội viên đạt gia đình văn hóa hàng năm tăng lên: cuối năm 2017 là 81%.

IV. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VỚI XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH

1.Tổ chức dạy nghề cho nông dân

Thực hiện Nghị quyết 02 - NQ/HU, ngày 17/01/2011 của Ban Thường vụ huyện ủy về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Hội đã tuyên tuyền và phối hợp với các ngành chức năng, các công ty, doanh nghiệp tổ chức, trung tâm học tập cộng đồng cho hàng 1000 lượt người tham gia như: nghề mộc, May xong xiên, các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề ngắn hạn nhằm nâng cao tay nghề cho nông dân; nghề sữa chữa máy nông nghiệp, nghề trồng trọt, chăn nuôi... tỷ lệ nông dân sau học nghề có việc làm đạt trên 60%.

2. Tham gia giám sát, phản biện xã hội và góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Trong những năm qua Hội đã tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện có hiệu quả Quyết định số 217 - QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”, Hội đã phối hợp với các ban ngành chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp; quản lý đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng.., tham gia đóng góp ý kiến để cấp ủy, chính quyền xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở địa phương, mọi công việc của địa phương được công khai đến nhân dân, giám sát, phản biện theo đúng quy định.

V. THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Thực hiện Quyết định 218 - QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về ban hành quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền”. Hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm vận động nông dân tích cực tham gia xây dựng đảng, chính quyền vững mạnh thông qua việc tham gia đóng góp ý kiến vào các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của cấp ủy, chính quyền liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tuyên truyền hội viên, nông dân tích cực tham gia cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021; Cán bộ chủ chốt của Hội tham gia cấp ủy viên. Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, HĐND, quyết định của UBND, thông qua đó khẳng định chủ trương đúng, hợp lòng dân, đồng thời điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp tình hình thực tế của địa phương.

Hội đã chủ động nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nông dân phản ánh với đảng, chính quyền thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến đến với đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

I. Đánh giá chung

1. Những kết quả nổi bật:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân xã Thiệu nhiệm kỳ 2012 - 2018, công tác Hội và phong trào nông dân phát triển tương đối mạnh và vững chắc, đạt được nhiều thành tích quan trọng trên các lĩnh vực công tác. Công tác cán bộ được tăng cường, chất lượng Chi hội, chất lượng Hội viên được nâng lên, phong trào công tác Hội được khơi dậy và phát huy. Hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân từng bước đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân. Phát huy được vai trò trung tâm, nòng cốt của nông dân trong các phong trào thi đua, cán bộ, hội viên nông dân luôn đoàn kết khắc phục khó khăn thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Công tác Hội và phong trào nông dân ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống nông dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn. Từ những kết quả đó, nhiệm kỳ qua Hội Nông dân xã Thiệu luôn được cấp trên công nhận là đơn vị vững mạnh toàn diện.

2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Công tác tuyên truyền, vận động của cán bộ Hội về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ công tác hội về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có thời điểm chưa kịp thời.

Công tác đấu mối phối kết hợp với các nhà khoa học, với các doanh nghiệp để hướng dẫn, để liên kết, hợp tác và phát triển mô hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp còn hạn chế.

Công tác Hội và phong trào nông dân ở một số chi hội hoạt động chưa mạnh, chưa thu hút được hội viên tham gia sinh hoạt, hội họp. khó khăn cho việc thực hiện quy chế dân chủ và nhiệm vụ công tác Hội.

Công tác phát triển hội viên còn thấp 890HV/1095 hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp bằng 81,2%.

Một số hộ nông dân chưa mạnh dạn đầu tư cho phát triển sản xuất, chăn nuôi, còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, thiếu kiến thức thị trường. Vẫn còn dựa vào kinh nghiệm, phương thức sản xuất, kinh doanh cũ.

* Nguyên nhân đạt được

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, sự phối hợp của chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các ban ngành, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội. Sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của Hội cấp trên cùng với sự năng động, sáng tạo có trách nhiệm và tinh thần đoàn kết, thống nhất của cán bộ, hội viên nông dân. Đặc biệt là chủ trương, đường lối, các cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và hội viên, nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền.

* Nguyên nhân tồn tại:

- Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội còn chậm so với yêu cầu thực tiễn; năng lực trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm công tác của một bộ phận cán bộ Hội còn hạn chế trên một số lĩnh vực, chậm đổi mới; tác phong, lề lối công tác còn thiếu sâu sát, chưa bắt kịp với sự phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của nông dân

- Việc tổng kết thực tiễn, nhân rộng các mô hình, điển hình chưa được quan tâm thường xuyên. Năng lực cụ thể hóa của một số đồng chí cán bộ Hội trong thực hiện các chủ trương công tác chưa kịp thời, thiếu sáng tạo, công tác kiểm tra, đôn đốc thiếu cương quyết.

3. Bài học kinh nghiệm

Một là: Luôn bám sát sự lãnh, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chủ động trong công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, MTTQ, các ban ngành đoàn thể chính trị xã hội là nhân tố quyết định trong việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu nhiệm vụ công tác hội và phong trào nông dân

Hai là: Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, hội viên, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp nông dân trong thời kỳ hội nhập.

Ba là: Làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy Đảng trong việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, tâm huyết với công tác, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ.

Bốn là: Không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế hoạt động, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về chấp hành Nghị quyết, Điều lệ Hội, tổ chức tốt phong trào thi đua, sơ tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng để nhân rộng điển hình tiên tiến và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục hạn chế yếu kém.

Năm là: Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cán bộ, hội viên, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, tổ chức tốt các hoạt động từ thiện, giúp đỡ hội viên khó khăn, tạo sự gắn kết giữa tổ chức Hội và hội viên, gắn kết quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên đối với nhiệm vụ Chính trị của địa phương với nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2018 – 2023

Đại hội Hội Nông dân xã Thiệu Lý, nhiệm kỳ 2018 – 2023 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn còn diễn biến phức tạp; giá cả hàng hóa nông sản, thực phẩm không ổn định, sản xuất nông nghiệp còn manh muốn, nhỏ l, thiếu tính bền vững, nông dân còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, kiến thức thị trường...

Đảng, Nhà nước tiếp tục có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.

Tình hình trên, sẽ tạo ra cả những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân trong thời gian tới.

Bám sát mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã đề ra; Thực hiện nhiệm vụ của Hội nông dân huyện; căn cứ thực tế tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn của xã, với tinh thần “Phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam; Hội nông dân xã Thiệu Lý đoàn kết xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đáng là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lýgiàu mạnh, văn minh”. Hội nông dân xã Thiệu Lý quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cơ bản sau:

A.PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU.

I. Phương hướng.

Phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam, Hội nông dân xã Thiệu Lý đoàn kết xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đánglà trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Tham gia có hiệu quảcông tác xây dựng Đảng, Chính quyền địa phương vững mạnh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Nâng cao vai trò đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân, góp phần đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lý giàu mạnh, văn minh.

II. Mục tiêu chung:

1. Tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện, trọng tâm là chất lượng hoạt động các chi hội, chất lượng đội ngũ cán bộ Hội, chú trọng tập hợp, đoàn kết, phát huy sức sáng tạo của hội viên, nông dân; thực hiện có hiệu quả các chủ trương nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

2. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, gắn với ba phong trào thi lớn do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; tích cực tham gia xây dựng và nâng cao tiêu chí nông thôn mới

3. Nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân; xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

III. Các chỉ tiêu chủ yếu:

1. 95% cán bộ, hội viên nông dân được tiếp thu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, của Hội cấp trên

2. 100% cán bộ Hội từ BCH đến cán bộ chi hội hàng năm được tham gia học tập bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội

3. Phấn đấu kết nạp 250 hôi viên mới, đến năm 2023 đạt 100% tỷ lệ hội viên/số hộ nông nghiệp.

4. 100% chi hội có quỹ Hội, bình quân từ 200.000 đồng trở lên/hội viên.

5. Vận động, đóng góp xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu huyện giao.

6. Hằng năm vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hoá.

7. Hằng năm có từ 85% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 60% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

8. Hội hướng dẫn xây dựng từ 1 - 2 mô hình phát triển kinh tế liên kết, hợp tác

9. Tổ chức hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nông dân. Về vốn, vật tư, khoa học kỹ thuật, có 100% chi hội tham gia.

10. Hội Nông dân trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho 300 nông dân; trong đó tỷ lệ có việc làm đạt 80% trở lên.

11. 100% cán bộ Hội và 80% hội viên, nông dân trở lên được tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân,nôngthôn.

12. Phấn đấu trong nhiệm kỳ giới thiệu từ 2 - 3 hội viên ưu tú cho Đảng bồi dưỡng và xem xét kết nạp đảng.

13. Phấn đấu hàng năm có 100% chi hội khá và vững mạnh, 50% chi hội xuất sắc ; không có chi hội yếu kém, hàng năm Hội Nông dân xã đạt vững mạnh.

B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.

I. Về xây dựng tổ chức Hội:

1. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng

Tích cực tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chỉ thị số 05-CT/TWcủa Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân và các nghị quyết của Hội đến đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân. Cung cấp kịp thời các thông tin về thị trường, giá cả nông sản, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất… để nông dân lựa chọn và ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Thường xuyên, sâu sát trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc của nông dân để phản ánh, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền có biện pháp giải quyết kịp thời.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành, truyền thông đại chúng, nhân rộng các loại hình Câu lạc bộ nông dân có hiệu quả ở khu dân cư, nhằm chủ động cung cấp kịp thời thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chủ trương, nghị quyết của Hội đến hội viên nông dân.

2. Công tác xây dựng tổ chức Hội.

Tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức Hội mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực tập hợp, vận động, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; hướng dẫn, tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Chú trọng phát triển hội viên là chủ các chủ trang trại, các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, các nhà khoa học, cán bộ công chức nghỉ hưu… nâng cao chất lượng hội viên về nhận thức năng lực, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh, tính gương mẫu trong chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi, nội dung sinh hoạt phải đa dạng, phong phú, thiết thực đến quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên, nông dân và các vấn đề hội viên, nông dân đang cần hỗ trợ, giúp đỡ, tạo động lực để hội viên, nông dân gắn bó với tổ chức Hội.

Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng trình độ cho đội ngũ cán bộ Hội, nhất là đội ngũ cán bộ ở chi hội, nhằm đáp ứng những điều kiện ngày càng cao của công tác Hội và phong trào nông dân.

Tiếp tục xây dựng và phát triển Quỹ Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các hoạt động ở cơ sở, chi, tổ Hội trên cơ sở các nguồn thu từ hội phí và đóng góp tự nguyện của hội viên và mở rộng phát triển các nguồn thu từ tổ chức các hoạt động tư vấn, dịch vụ của Hội.

3. Công tác kiểm tra, giám sát: Tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ công tác hội, nhất là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ tiêu công tác hội, kiểm tra quản lý vốn vay ủy thác của ngân hàng CSXH – Ngân hàng NN&PTNT và các loại vốn quỹ, phát hiện kịp thời những thiếu sót để chỉ đạo, chấn chỉnh khắc phục, xử lý vi phạm theo quy định.

4. Công tác thi đua khen thưởng: Phát động các phong trào thi đua yêu nước, hằng năm tổ chức cho các chi hội đăng ký danh hiệu thi đua, giao chỉ tiêu thi đua cho các chi hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng chi hội. Các chi tiêu thi đua phải gắn với công việc cụ thể, cuối năm có đánh giá, xét chấm điểm thi đua. Công tác khen thưởng được tiến hành công khai, dân chủ, công bằng. Xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua để nhân ra diện rộng.

II. Vai trò, trách nhiệm của Hội trong phát triển nông nghiệp.

1. Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Tiếp tục vận động nông dân tích cực tham gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các loại cây, con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, thực hiện chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, hướng dẫn, xây dựng mô hình kinh tế trang trại, liên kết sản xuất, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ nâng cao sản xuất nông nghiệp. tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có thị trường ổn định.

Phối hợp với ban ngành, tổ chức chính trị xã hội, hướng dẫn nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn VIETGAP, đáp ứng các yêu cầu số lượng, chất lượng, mẫu mã, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong nước và thị trường thế giới. Vận động nông dân tích cực thực hiện Nghị quyết 06 của Ban Chấp hàng Đảng bộ huyện về chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ, để tích tụ ruộng đất tập trung, nâng quy mô sản xuất, phát triển nhanh các mô hình trang trại, gia trại, hợp tác xã, xây dựng cánh đồng mẫu lớn để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị hàng hóa.

2. Tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân

Tiếp tục phối hợp với trung tâm giáo dục cộng đồng để tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh cho nông dân. Phối hợp với NHCS-XH, NHNN&PTNT quản lý vốn vay ủy thác, thực hiện tốt việc cung ứng phân bón chậm trả cho nông dân.

Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ, tăng cường công tác bồi dưỡng cho cán bộ, hội viên nông dân có kiến thức, phương pháp kỹ năng trong sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế, đồng thời kết hợp và liên kết hỗ trợ nông dân về khoa học kỹ thuật để sản xuất và kinh doanh, hỗ trợ vay vốn, cung ứng vật tư nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm và tổ chức dạy nghề tại chỗ cho nông dân. Tăng cường công tác phối hợp với chính quyền, các ban ngành trong việc xây dựng kế hoạch, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm hỗ trợ các cơ chế, chính sách về vốn, về đất đai, thị trường cho nông dân mở rộng sản xuất kinh doanh.Tích cực tuyên truyền, hướng dẫn đưa mô hình liên kết, tổ chức sản xuất hàng hóa, đưa sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ra thị trường, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, người tiêu dùng, đảm bảo vệ sinh môi trường.

3. Vận động, hướng dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể

Vận động, hướng dẫn nông dân tích cực tham gia là thành viên của các loại hình Hợp tác xã hoặc liên kết, hợp tác với nhau theo các nhóm hộ, thành lập tổ hợp tác, Hợp tác xã kiểu mới, tích tụ ruộng đất theo mô hình tập trung liên kết, hợp tác sản xuất cùng một sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

III. Vai trò trách nhiệm của Hội trong xây dựng nông thôn mới

1. Tham gia thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về phát triển nông nghiệp,nông dân, nông thôn, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững ở nông thôn. Vận động đóng góp công sức, tiền của. xây dựng, nâng cấp các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn .... Vận động cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký và phấn đấu có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hoá; tham gia xây dựng thôn, làng, xã văn hóa; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; Thực hiện nếp sống văn minh tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội; tham gia thực hiện chương trình nâng cao dân trí bồi dưỡng nhân tài, giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. thực hiện tốt hương ước, quy ước thôn, làng văn hóa và các quy định của địa phương. và tham gia cuộc vận động “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, xây dựng thôn, làng, xã kiểu mẫu

2. Tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ để kích động, lôi kéo,chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phối hợp với lực lượng quân sự, công an, tích cực tham gia xây dựng thế trận an ninh quốc phòng toàn dân. Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân hăng hái tham gia dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, "chính sách hậu phương quân đội". góp phần giữ vững Quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội ở địa phương.

IV. Vai trò, trách nhiệm của Hội với xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh

1. Tổ chức dạy nghề và giới thiệu việc làm cho nông dân.

Hội tiếp tục phối hợp tchc đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Phát huy mô hình nông dân dạy nghề cho nông dân, người biết nghề dạy nghề cho người không biết. Tư vấn giới thiệu việc làm cho nông dân sau học nghề có việc làm đạt trên 80%; tạo điều kiện cho hộ nông dân tích tụ được ruộng đất để sản xuất hàng hóa tập trung, có trình độ cao.

2. Tham gia xây dựng, giám sát, phản biện cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Hội tham gia giám sát việc thực hiện cơ chế chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đồng thời nghiên cứu nắm bắt những bất cập trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân và xây dựng nông thôn mới để kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, sửa đổi ban hành phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nông dân.

V. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành quy định về việc “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền”; Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc “phối hợp giữa các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân”. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết TW 4, khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở, kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực, xâm phạm quyền dân chủ của nông dân phản ánh với cấp ủy, chính quyền xử lý. Quan tâm phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, hội viên ưu tú để các cấp ủy Đảng xem xét kết nạp vào Đảng.

Tự hào với truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam trong suốt 88 năm phấn đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng; Hội Nông dân xã Thiệu Lý tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, khắc phục khó khăn, thách thức, phấn đấu vươn lên thực hiện tốt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong nhiệm kỳ mới, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân trong xã thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN XÃ THIỆU LÝ NHIỆM KỲ 2012 - 2018

nông nghiệp nông dân nông thôn

Đăng lúc: 09/06/2018 09:08:23 (GMT+7)

ngày 9/6/2018

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

HND HUYỆN THIỆU HÓA

BCH HND XÃ THIỆU LÝ

*

Số: - BC/HNDX

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Thiệu Lý, ngày 08 tháng 03 năm 2018

Dự thảo

BÁO CÁO

CỦA BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN XÃ KHÓA IX

TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023


Thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân, nhiệm kỳ 2012 -2018, tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức: tình hình kinh tế có nhiều thay đổi; thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn những vấn đề khó lường; hàng tiêu dùng tăng cao; giá hàng hóa nông sản, thực phẩm thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất và đời sống sinh hoạt của nông dân.

Song được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Hội Nông dân huyện; tạo điều kiện của Chính quyền, phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị kinh tế trong xã; với tinh thần trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân trong xã đã phát huy truyền thống văn hóa, cách mạng, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, năng động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đoàn kết tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền trong sạch vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương.

Đại hội Hội Nông dân xã lần thứ X, nhiệm kỳ 2018 – 2023, là Đại hội của tinh thần “Đoàn kết, đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đáng là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lýgiàu mạnh, văn minh”.

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI IX, NHIỆM KỲ 2012 - 2018

A.TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

Nhiệm kỳ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của chính quyền; sự phối hợp của MTTQ, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội nên đã động viên nông dân, trong việc khắc phục khó khăn, cùng với những chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn của huyện, do đó nông nghiệp, nông dân, nông thôn xã nhà đã đạt được thành tựu to lớn, góp phần ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nhiều loại cây trồng năng suất, chất lượng, hiệu quả cao được đưa vào sản xuất thâm canh; cơ giới hóa đồng bộ được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp. Về trồng trọt diện tích canh tác 257 ha, chủ yếu là trồng lúa và cây rau màu. Năng suất lúa bình quân hàng năm đạt 12,5 tấn/ha/năm, tổng sản lượng quy thóc đạt 3.200 tấn, bình quân 689kg/người/năm, giá trị sản xuất trên 1ha canh tác nhiệm kỳ trước là 78 triệu đồng đến nay đạt 91,4 triệu đồng. Chăn nuôi tăng cả về sản lượng, chất lượng, giá trị và từng bước phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp; tổng đàn trâu bò hằng năm là 389 con,trong đó có 372 con bò sinh sản, tổng đàn lợn hằng năm có 2250 con,trong đó có 519 con lợn nái; gia cầm 22.000 con; trên địa bàn xã có 12 trang trại, gia trại; chăn nuôi cá tiếp tục được đầu tư thâm canh trên diện tích 11,5ha, diện tích ao hồ, sản lượng hằng năm ước đạt 20 tấn. Thu nhập từ chăn nuôi ước đạt 11,2 tỷ đồng.

Ngành nghề dịch vụ ở nông thôn ngày được củng cố, mở rộng quy mô, hoạt động kinh doanh, dịch vụ thương mại được quan tâm, các loại hình kinh doanh dịch vụ tại chỗ như chế biến lương thực, thực phẩm, sửa chữa cơ khí, buôn bán hàng tạp hóa, kinh doanh vật tư nông nghiệp, vật tư xây dựng, đại lý thức ăn chăn nuôi, vận tải hành khách, lao động làm nghề xây dựng và làm ở các công ty, xuất khẩu lao động đến nay toàn xã có 175 người, tổng thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ việc làm nhiệm kỳ qua đạt 116 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%. Tỷ trọng nông nghiệp hiện nay 22% ; công nghiệp - xây dựng 25%; dịch vụ thương mại 53%. Thu nhập bình quân đầu người 29,2 triệu/người/năm, tăng 12 triệu đồng so với năm 2012 mới chỉ đạt 17,2 triệu đồng.

Tình hình nông dân, nông thôn ổn định. Nông dân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Nông dân ngày càng khẳng định là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và tham gia xây dựng nông thôn mới; Cơ sở hạ tầng nông thôn và các công trình phúc lợi được đầu tư, như giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… khang trang, hiện đại.

Tuy nhiên, đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn thấp so với vị trí, tiềm năng và nhu cầu phát triển; Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân tuy có bước cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn. Nông dân khó tiếp cận các chính sách tín dụng của Nhà nước dẫn đến thiếu vốn sản xuất, kinh doanh…

B. KẾT QUẢ CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỘI; VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP; XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN

I. CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỘI

1. Công tác tuyên truyền, giáo dục, hính trị tư tưởng

Xác định công tác tuyên truyền giáo dục là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, nhiệm kỳ qua Hội đã tập trung tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương và Nghị quyết của Hội nhất là các nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXVIII - XXIX; cuộc bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII; Chỉ thị 03, 05 của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt” các mô hình, điển hình tiên tiến, nhiệm vụ công tác Hội đến hàng nghìn lượt cán bộ, hội viên, nông dân tham gia. Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân; gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội.. qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chính trị của cán bộ, hội viên, nông dân trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương. Với 108 buổi tuyên truyền, số lượt người tham gia trên 8000 người.

2. Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh

Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội là nhiệm vụ then chốt của Hội, trong đó công tác phát triển hội viên được Hội nông dân xã đặc biệt quan tâm. Trong nhiệm kỳ qua đã kết nạp 125 hội viên vào hội, nâng tổng số hội viên toàn xã lên 890 Hội viên, tỷ lệ tập hợp đạt 81,2% so với hộ nông nghiệp, vượt chỉ tiêu Đại hội VII đề ra là 17%, chất lượng hội viên được nâng lên. Có 101 hội viên là đảng viên tham gia sinh hoạt trong tổ chức Hội, chiếm tỷ lệ 41,5% tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ, có 65 đảng viên là hội viên nông dân tham gia công tác xã hội, phần lớn cán bộ chủ chốt của Đảng, Chính quyền các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế là hội viên nông dân. Tham gia Cấp ủy 9 đồng chí; đại biểu Hội đồng nhân dân 19 đồng chí; Chi ủy chi bộ 13 đồng chí, các ban, ngành, đoàn thể chính trị xã hội, các đơn vị kinh tế 25 đồng chí. Do đó chất lượng hội viên được nâng lên, hội viên tích cực tham gia, thực hiện các phong trào do Hội phát động, từ đó tạo nên sự gắn kết, thúc đẩy công tác xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh.

Các Chi hội duy trì và đổi mới nội dung sinh hoạt tập trung vào phổ biến, tuyên truyền chủ trương Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trao đổi phổ biến kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh giỏi, đóng góp xây dựng quỹ hội và quỹ hỗ trợ nông dân, động viên giúp đỡ hội viên nghèo vượt khó vươn lên,

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 30/12/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh Thanh Hóa, giai đoàn 2015 - 2020”. Hội đã tham mưu cho Cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện đầu tư trang bị máy tính làm việc và các điều kiện cần thiết đảm bảo hoạt động của Hội. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ Hội được quan tâm. Tham mưu cho cấp ủy cử 1 đồng chí đi học trung cấp Trung cấp chính trị. Công tác xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ hội được cấp hội quan tâm chỉ đạo. Kịp thời kiện toàn Ban chấp hành, Ban thường vụ và chi hội trưởng, chi hội phó đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định. Trong nhiệm kỳ đã kiện toàn, bầu bổ sung Ban Thường vụ 01 đồng chí là Chủ tịch Hội, 02 đồng chí Chi hội trưởng, vì vậy chất lượng hoạt động của Hội ngày càng được nâng cao.

Công tác xây dựng quỹ Hội được thực hiện tốt, có 100% chi Hội xây dựng được quỹ Hội do hội viên tự nguyện đóng góp; việc quản lý và sử dụng quỹ Hội thực hiện đúng nguyên tắc và theo đúng Nghị quyết của Hội đề ra. Đến nay, tổng quỹ toàn xã có 89 triệu đồng, trong đó quỹ do Hội nông dân xã quản lý là 1,5 triệu đồng, các chi hội là 87,5 triệu đồng, bình quân gần 100.000 nghìn đồng/1 hội viên.

Quỷ hỗ trợ nông dân trong nhiệm kỳ Hội đã tổ chức vận động quyên góp, hội viên đã tham gia đóng góp được 30 triệu đồng nộp về huyện Hội quản lý theo quy định của Trung ương Hội. Hiện nay Hội nông dân xã làm hồ sơ đề nghị huyện Hội cho hội viên vay quỹ hỗ trợ nông dân với số tiền 30 triệu đồng phát triển sản xuất mô hình trồng cây dược liệu và 300 triệu đồng quỹ HTND tỉnh về “ Chăn nuôi bò sinh sản đảm bảo vệ sinh môi trường”.

3. Công tác kiểm tra

Công tác kiểm tra được duy trì thường xuyên. Trong nhiệm kỳ Hội chú trọng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, đã xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát theo định kỳ, đã kiểm tra 18 lần ở các chi hội. Nội dung kiểm tra: tập trung về công tác xây dựng Hội và thực hiện các chỉ tiêu thi đua, thực hiện Điều lệ của hội; công tác quản lý vốn, quỹ, quản lý sử dụng các nguồn vốn vay Ngân hàng CSXH; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Qua công tác kiểm tra đã kịp thời phát hiện, điều chỉnh những sai sót trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

4. Công tác thi đua khen thưởng

Xác định công tác thi đua khen thưởng là nguồn cổ vũ thiết thực cho việc tổ chức tốt mọi phong trào của Hội đề ra. Hàng năm, căn cứ nhiệm vụ được giao, Hội xây dựng kế hoạch triển khai, phát động thi đua, giao chỉ tiêu cho từng chi hội và đăng ký thi đua đến cán bộ hội viên nông dân. Cuối năm tổ chức bình xét biểu dương cho các tập thể cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hội và phong trào nông dân. Trong nhiệm kỳ biểu dương, khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tập thể, và cấp giấy chứng nhận hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi cấp xã cho hàng trăm lượt hộ.

Nhiệm kỳ qua các cấp Hội được Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp tặng: Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng 9 kỷ niệm chương “ Vì giai cấp Nông dân Việt Nam”; Hội nông dân huyện tặng 07 giấy khen cho tập thể, 07 cá nhân; hàng năm Hội đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh.

II. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI NÔNG DÂNTRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1. Phong trào Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự phối hợp của Chính quyền, phong trào Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi tiếp tục phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa trong nhiều lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn và đã đạt được những kết quả to lớn, tạo động lực khích lệ, động viên hội viên, nông dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, đổi mới cách nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn liếng để đầu tư phát triển sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Hội nông dân đã có nhiều biện pháp chỉ đạo: tuyên truyền, vận động hội viên chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức dạy nghề, tín chấp cho nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi… Vì vậy, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phong trào, số hộ nông dân đăng ký tham gia phong trào ngày càng nhiều, số hộ gia đình đạt sản xuất kinh doanh giỏi hàng năm tăng lên

Năm 2012 có 635 hộ đăng ký và có 425 hộ đạt tiêu chuẩn hộ gia đình SXKD giỏi, đến năm 2017 có 711/1095 hộ nông dân đăng ký tham gia bằng 65% tổng số hộ nông nghiệp. Kết quả có 492 hộ đạt tiêu chí gia đình SXKD giỏi các cấp

Trong đó: + Đạt tiêu chí cấp huyện 20 hộ = 2,8%

+ Đạt tiêu chí cấp Tỉnh 20 hộ = 2,8%

+ Đạt tiêu chí cấp xã là 452 hộ = 63,5%

Nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh có mức thu nhập từ 100 đến 200 triệu đồng/năm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp điển hình như hộ ông Hai, ông Huấn, ở thôn 1, chăn nuôi trang trại như hộ ông Khôi thôn 1, ông Siêu thôn 3; mô hình trồng hoa cây cảnh: hộ Anh Thuật, Bà Thức thôn 1…mô hình trồng cây dược liệu: hộ ông Tương thôn 8; kinh doanh dịch vụ vật liệu xây dựng hộ ông Chương, ông Thôn thôn 6, anh Hưng thôn 8…. vv .Đặc biệt có hơn 40 hộ có thu nhập đạt trên 300 triệu đồng/năm, điển hình là như hộ ông Hải, ông Đề, Bà Điểm thôn 2, ông Chương, A Hưng…., Vận tải hành khách anh Trường, anh Dũng; sản xuất nghề mộc, đồ nhựa gia dụng như hộ ông Hiển thôn 6, anh Uy thôn 3…

Với ý thức tự lực, tự cường phát huy nội lực, phấn đấu vươn lên của mỗi hộ gia đình quyết tâm làm giàu chính đáng bằng nhiều hình thức trong phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ, là một xã có đa ngành nghề, nông dân đã vận dụng sáng tạo, phù hợp với chủ trương phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nên trong những năm qua ngày càng xuất hiện thêm nhiều cách nghĩ, cách làm hay của nông dân trong xã đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, Quốc phòng an ninh của địa phương. Hằng năm thực hiện phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi.

Thực hiện Quyết định số 2382/2011/QĐ-UBND, ngày 22/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa “Quy định đối tượng, tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giỏi, Hội Nông dân tổ chức phong trào giỏi giai đoạn 2011 – 2016”; “2015 – 2017”.

2. Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn giúp nông dân phát triển sản xuất

Hội Nông dân đã Phối hợp với công ty phân bón Thần Nông dịch vụ phân bón chậm trả phục vụ nhân dân sản xuất được hơn 200 tấn, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý công khai, phục vụ nông dân phát triển sản xuất. Phối hợp với NHNN&PTNT và NHCS-XH thực hiện tốt công tác thẩm định cho vay vốn và quản lý vốn vay đúng quy định và hướng dẫn của nhà nước, dư nợ luân chuyển hàng năm của 2 Ngân hàng 13 tỷ đồng; Phối hợp với trung tâm học tập cộng đồng, Hội làm vườn, cùng HTX Dịch vụ nông nghiệp, các ban ngành, các doanh nghiệp tổ chức 25 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất, chăn nuôi và sử dụng chế phẩm sinh học, tuyên truyền, tập huấn vệ sinh môi trường, tư vấn giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động cho gần 2000 lượt hội viên, nông dân.

III. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI NÔNG DÂN THAM GIA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI

1.Phong trào nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Nghị quyết 04 – NQ/HU của BTV Huyện ủy Thiệu Hóa, ngày 15/4/2011 “Về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 – 2020”; Hội Nông dân xã đã tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia thực hiện 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm thiết thực như: hiến đất, đóng góp tiền của, ngày công lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới do xã phát động. Năm 2016 xã nhà đã được công nhận xã NTM. Trong năm qua hội tiếp tục tuyên truyền vận động hội viên tích cực tham gia xây dựng củng cố để nâng cao các tiêu chí đến nay vẫn giữ vững 18/18 tiêu chí xây dựng NTM.

Kết quả: Có 90 % Hội viên, nông dân tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới ở cơ sở; tham gia đóng góp ngày công lao động, xây mới, chỉnh trang và sửa chửa nhà ở, tham gia làm đường giao thông nông thôn, đường làng, ngõ xóm được 8,37 km; Giao thông nội đồng là 9,9 km; Hệ thống thủy lợi, kênh mương đã được kiên cố hóa là 6,7 km với giá trị hàng chục tỷ đồng. Hàng năm nhân dân tham gia nạo vét, tu sửa kênh mương nội đồng, giá trị hàng trăm triệu đồng. Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế trên địa bàn xã là 3744/4302 người, đạt 87%. Hội đã tuyên truyền động hội viên, nông dân tích cực tham gia thu gom và xử lý vỏ bao thuốc BVTV ở các cống đặt ngay đầu trục đường; đồng thời thực hiện quy định về công tác vệ sinh môi trường, giữ gìn cảnh quan, đường làng ngõ xóm đảm bảo vệ sinh xanh sạch đẹp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Phối hợp tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 về tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống thiên tai ổn định đời sống dân cư, vận động hội viên thực hiện tốt NQ 06 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ để đầu tư mở rộng sản xuất, tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế nông nghiệp liên kết, theo quy hoạch của địa phương. Đến nay đã và đang có 9/9 thôn thực hiện chuyển đổi ruộng đất, đã hình thành các mô hình sản xuất tập trung, như vùng lúa liền vùng cùng trà ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, sản xuất rau màu, quy hoạch trang trại ở khu riêng.

2. Phong trào nông dân tham gia bảo đảm Quốc phòng - An ninh

Nhiệm kỳ qua, Hội nông dân xã đã tăng cường phối hợp với chính quyền, công an, quân sự tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; động viên con, em lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc. Trong nhiệm kỳ có 35 thanh niên nhập ngũ đảm bảo hoàn thành 100% chỉ tiêu giao. Có 87 hội viên, nông dân tham gia tổ ANXH, 9 hội viên tham gia tổ bảo vệ ANTT thôn, nên những vụ việc mâu thuẫn, thắc mắc trong nội bộ nhân dân được hòa giải kịp thời và tích cực tham gia công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở khu dân cư.

Kết quả phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.

3. Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và đô thị văn minh”; Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hội viên, nông dân.

Thực hiện phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá và đô thị văn minh”,hàng năm Hội phối hợp với chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động hội viên nông dân đăng ký thi đua xây dựng gia đình văn hoá, tích cực tham gia xây dựng hương ước, quy ước, xây dựng làng, xã văn hoá. Thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội thường xuyên tuyên truyền, vận động hội viên nông dân thực hiện nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao. Tỷ lệ gia đình hội viên đạt gia đình văn hóa hàng năm tăng lên: cuối năm 2017 là 81%.

IV. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VỚI XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH

1.Tổ chức dạy nghề cho nông dân

Thực hiện Nghị quyết 02 - NQ/HU, ngày 17/01/2011 của Ban Thường vụ huyện ủy về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Hội đã tuyên tuyền và phối hợp với các ngành chức năng, các công ty, doanh nghiệp tổ chức, trung tâm học tập cộng đồng cho hàng 1000 lượt người tham gia như: nghề mộc, May xong xiên, các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề ngắn hạn nhằm nâng cao tay nghề cho nông dân; nghề sữa chữa máy nông nghiệp, nghề trồng trọt, chăn nuôi... tỷ lệ nông dân sau học nghề có việc làm đạt trên 60%.

2. Tham gia giám sát, phản biện xã hội và góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Trong những năm qua Hội đã tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện có hiệu quả Quyết định số 217 - QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”, Hội đã phối hợp với các ban ngành chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp; quản lý đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng.., tham gia đóng góp ý kiến để cấp ủy, chính quyền xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở địa phương, mọi công việc của địa phương được công khai đến nhân dân, giám sát, phản biện theo đúng quy định.

V. THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Thực hiện Quyết định 218 - QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về ban hành quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền”. Hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm vận động nông dân tích cực tham gia xây dựng đảng, chính quyền vững mạnh thông qua việc tham gia đóng góp ý kiến vào các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của cấp ủy, chính quyền liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tuyên truyền hội viên, nông dân tích cực tham gia cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021; Cán bộ chủ chốt của Hội tham gia cấp ủy viên. Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, HĐND, quyết định của UBND, thông qua đó khẳng định chủ trương đúng, hợp lòng dân, đồng thời điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp tình hình thực tế của địa phương.

Hội đã chủ động nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nông dân phản ánh với đảng, chính quyền thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến đến với đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

I. Đánh giá chung

1. Những kết quả nổi bật:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân xã Thiệu nhiệm kỳ 2012 - 2018, công tác Hội và phong trào nông dân phát triển tương đối mạnh và vững chắc, đạt được nhiều thành tích quan trọng trên các lĩnh vực công tác. Công tác cán bộ được tăng cường, chất lượng Chi hội, chất lượng Hội viên được nâng lên, phong trào công tác Hội được khơi dậy và phát huy. Hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân từng bước đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân. Phát huy được vai trò trung tâm, nòng cốt của nông dân trong các phong trào thi đua, cán bộ, hội viên nông dân luôn đoàn kết khắc phục khó khăn thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Công tác Hội và phong trào nông dân ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống nông dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn. Từ những kết quả đó, nhiệm kỳ qua Hội Nông dân xã Thiệu luôn được cấp trên công nhận là đơn vị vững mạnh toàn diện.

2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Công tác tuyên truyền, vận động của cán bộ Hội về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ công tác hội về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có thời điểm chưa kịp thời.

Công tác đấu mối phối kết hợp với các nhà khoa học, với các doanh nghiệp để hướng dẫn, để liên kết, hợp tác và phát triển mô hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp còn hạn chế.

Công tác Hội và phong trào nông dân ở một số chi hội hoạt động chưa mạnh, chưa thu hút được hội viên tham gia sinh hoạt, hội họp. khó khăn cho việc thực hiện quy chế dân chủ và nhiệm vụ công tác Hội.

Công tác phát triển hội viên còn thấp 890HV/1095 hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp bằng 81,2%.

Một số hộ nông dân chưa mạnh dạn đầu tư cho phát triển sản xuất, chăn nuôi, còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, thiếu kiến thức thị trường. Vẫn còn dựa vào kinh nghiệm, phương thức sản xuất, kinh doanh cũ.

* Nguyên nhân đạt được

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, sự phối hợp của chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các ban ngành, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội. Sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của Hội cấp trên cùng với sự năng động, sáng tạo có trách nhiệm và tinh thần đoàn kết, thống nhất của cán bộ, hội viên nông dân. Đặc biệt là chủ trương, đường lối, các cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và hội viên, nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền.

* Nguyên nhân tồn tại:

- Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội còn chậm so với yêu cầu thực tiễn; năng lực trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm công tác của một bộ phận cán bộ Hội còn hạn chế trên một số lĩnh vực, chậm đổi mới; tác phong, lề lối công tác còn thiếu sâu sát, chưa bắt kịp với sự phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của nông dân

- Việc tổng kết thực tiễn, nhân rộng các mô hình, điển hình chưa được quan tâm thường xuyên. Năng lực cụ thể hóa của một số đồng chí cán bộ Hội trong thực hiện các chủ trương công tác chưa kịp thời, thiếu sáng tạo, công tác kiểm tra, đôn đốc thiếu cương quyết.

3. Bài học kinh nghiệm

Một là: Luôn bám sát sự lãnh, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chủ động trong công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, MTTQ, các ban ngành đoàn thể chính trị xã hội là nhân tố quyết định trong việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu nhiệm vụ công tác hội và phong trào nông dân

Hai là: Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, hội viên, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp nông dân trong thời kỳ hội nhập.

Ba là: Làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy Đảng trong việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, tâm huyết với công tác, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ.

Bốn là: Không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế hoạt động, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về chấp hành Nghị quyết, Điều lệ Hội, tổ chức tốt phong trào thi đua, sơ tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng để nhân rộng điển hình tiên tiến và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục hạn chế yếu kém.

Năm là: Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cán bộ, hội viên, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, tổ chức tốt các hoạt động từ thiện, giúp đỡ hội viên khó khăn, tạo sự gắn kết giữa tổ chức Hội và hội viên, gắn kết quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên đối với nhiệm vụ Chính trị của địa phương với nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2018 – 2023

Đại hội Hội Nông dân xã Thiệu Lý, nhiệm kỳ 2018 – 2023 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn còn diễn biến phức tạp; giá cả hàng hóa nông sản, thực phẩm không ổn định, sản xuất nông nghiệp còn manh muốn, nhỏ l, thiếu tính bền vững, nông dân còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, kiến thức thị trường...

Đảng, Nhà nước tiếp tục có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.

Tình hình trên, sẽ tạo ra cả những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân trong thời gian tới.

Bám sát mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã đề ra; Thực hiện nhiệm vụ của Hội nông dân huyện; căn cứ thực tế tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn của xã, với tinh thần “Phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam; Hội nông dân xã Thiệu Lý đoàn kết xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đáng là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lýgiàu mạnh, văn minh”. Hội nông dân xã Thiệu Lý quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cơ bản sau:

A.PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU.

I. Phương hướng.

Phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam, Hội nông dân xã Thiệu Lý đoàn kết xây dựng tổ chức Hội vững mạnh xứng đánglà trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Tham gia có hiệu quảcông tác xây dựng Đảng, Chính quyền địa phương vững mạnh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Nâng cao vai trò đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân, góp phần đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng quê hương Thiệu Lý giàu mạnh, văn minh.

II. Mục tiêu chung:

1. Tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện, trọng tâm là chất lượng hoạt động các chi hội, chất lượng đội ngũ cán bộ Hội, chú trọng tập hợp, đoàn kết, phát huy sức sáng tạo của hội viên, nông dân; thực hiện có hiệu quả các chủ trương nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

2. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, gắn với ba phong trào thi lớn do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; tích cực tham gia xây dựng và nâng cao tiêu chí nông thôn mới

3. Nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân; xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

III. Các chỉ tiêu chủ yếu:

1. 95% cán bộ, hội viên nông dân được tiếp thu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, của Hội cấp trên

2. 100% cán bộ Hội từ BCH đến cán bộ chi hội hàng năm được tham gia học tập bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội

3. Phấn đấu kết nạp 250 hôi viên mới, đến năm 2023 đạt 100% tỷ lệ hội viên/số hộ nông nghiệp.

4. 100% chi hội có quỹ Hội, bình quân từ 200.000 đồng trở lên/hội viên.

5. Vận động, đóng góp xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu huyện giao.

6. Hằng năm vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hoá.

7. Hằng năm có từ 85% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 60% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

8. Hội hướng dẫn xây dựng từ 1 - 2 mô hình phát triển kinh tế liên kết, hợp tác

9. Tổ chức hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nông dân. Về vốn, vật tư, khoa học kỹ thuật, có 100% chi hội tham gia.

10. Hội Nông dân trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho 300 nông dân; trong đó tỷ lệ có việc làm đạt 80% trở lên.

11. 100% cán bộ Hội và 80% hội viên, nông dân trở lên được tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân,nôngthôn.

12. Phấn đấu trong nhiệm kỳ giới thiệu từ 2 - 3 hội viên ưu tú cho Đảng bồi dưỡng và xem xét kết nạp đảng.

13. Phấn đấu hàng năm có 100% chi hội khá và vững mạnh, 50% chi hội xuất sắc ; không có chi hội yếu kém, hàng năm Hội Nông dân xã đạt vững mạnh.

B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.

I. Về xây dựng tổ chức Hội:

1. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng

Tích cực tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chỉ thị số 05-CT/TWcủa Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân và các nghị quyết của Hội đến đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân. Cung cấp kịp thời các thông tin về thị trường, giá cả nông sản, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất… để nông dân lựa chọn và ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Thường xuyên, sâu sát trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc của nông dân để phản ánh, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền có biện pháp giải quyết kịp thời.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành, truyền thông đại chúng, nhân rộng các loại hình Câu lạc bộ nông dân có hiệu quả ở khu dân cư, nhằm chủ động cung cấp kịp thời thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chủ trương, nghị quyết của Hội đến hội viên nông dân.

2. Công tác xây dựng tổ chức Hội.

Tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức Hội mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực tập hợp, vận động, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; hướng dẫn, tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Chú trọng phát triển hội viên là chủ các chủ trang trại, các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, các nhà khoa học, cán bộ công chức nghỉ hưu… nâng cao chất lượng hội viên về nhận thức năng lực, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh, tính gương mẫu trong chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi, nội dung sinh hoạt phải đa dạng, phong phú, thiết thực đến quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên, nông dân và các vấn đề hội viên, nông dân đang cần hỗ trợ, giúp đỡ, tạo động lực để hội viên, nông dân gắn bó với tổ chức Hội.

Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng trình độ cho đội ngũ cán bộ Hội, nhất là đội ngũ cán bộ ở chi hội, nhằm đáp ứng những điều kiện ngày càng cao của công tác Hội và phong trào nông dân.

Tiếp tục xây dựng và phát triển Quỹ Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các hoạt động ở cơ sở, chi, tổ Hội trên cơ sở các nguồn thu từ hội phí và đóng góp tự nguyện của hội viên và mở rộng phát triển các nguồn thu từ tổ chức các hoạt động tư vấn, dịch vụ của Hội.

3. Công tác kiểm tra, giám sát: Tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ công tác hội, nhất là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ tiêu công tác hội, kiểm tra quản lý vốn vay ủy thác của ngân hàng CSXH – Ngân hàng NN&PTNT và các loại vốn quỹ, phát hiện kịp thời những thiếu sót để chỉ đạo, chấn chỉnh khắc phục, xử lý vi phạm theo quy định.

4. Công tác thi đua khen thưởng: Phát động các phong trào thi đua yêu nước, hằng năm tổ chức cho các chi hội đăng ký danh hiệu thi đua, giao chỉ tiêu thi đua cho các chi hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng chi hội. Các chi tiêu thi đua phải gắn với công việc cụ thể, cuối năm có đánh giá, xét chấm điểm thi đua. Công tác khen thưởng được tiến hành công khai, dân chủ, công bằng. Xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua để nhân ra diện rộng.

II. Vai trò, trách nhiệm của Hội trong phát triển nông nghiệp.

1. Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Tiếp tục vận động nông dân tích cực tham gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các loại cây, con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, thực hiện chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, hướng dẫn, xây dựng mô hình kinh tế trang trại, liên kết sản xuất, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ nâng cao sản xuất nông nghiệp. tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có thị trường ổn định.

Phối hợp với ban ngành, tổ chức chính trị xã hội, hướng dẫn nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn VIETGAP, đáp ứng các yêu cầu số lượng, chất lượng, mẫu mã, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong nước và thị trường thế giới. Vận động nông dân tích cực thực hiện Nghị quyết 06 của Ban Chấp hàng Đảng bộ huyện về chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ, để tích tụ ruộng đất tập trung, nâng quy mô sản xuất, phát triển nhanh các mô hình trang trại, gia trại, hợp tác xã, xây dựng cánh đồng mẫu lớn để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị hàng hóa.

2. Tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân

Tiếp tục phối hợp với trung tâm giáo dục cộng đồng để tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh cho nông dân. Phối hợp với NHCS-XH, NHNN&PTNT quản lý vốn vay ủy thác, thực hiện tốt việc cung ứng phân bón chậm trả cho nông dân.

Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ, tăng cường công tác bồi dưỡng cho cán bộ, hội viên nông dân có kiến thức, phương pháp kỹ năng trong sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế, đồng thời kết hợp và liên kết hỗ trợ nông dân về khoa học kỹ thuật để sản xuất và kinh doanh, hỗ trợ vay vốn, cung ứng vật tư nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm và tổ chức dạy nghề tại chỗ cho nông dân. Tăng cường công tác phối hợp với chính quyền, các ban ngành trong việc xây dựng kế hoạch, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm hỗ trợ các cơ chế, chính sách về vốn, về đất đai, thị trường cho nông dân mở rộng sản xuất kinh doanh.Tích cực tuyên truyền, hướng dẫn đưa mô hình liên kết, tổ chức sản xuất hàng hóa, đưa sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ra thị trường, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, người tiêu dùng, đảm bảo vệ sinh môi trường.

3. Vận động, hướng dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể

Vận động, hướng dẫn nông dân tích cực tham gia là thành viên của các loại hình Hợp tác xã hoặc liên kết, hợp tác với nhau theo các nhóm hộ, thành lập tổ hợp tác, Hợp tác xã kiểu mới, tích tụ ruộng đất theo mô hình tập trung liên kết, hợp tác sản xuất cùng một sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

III. Vai trò trách nhiệm của Hội trong xây dựng nông thôn mới

1. Tham gia thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về phát triển nông nghiệp,nông dân, nông thôn, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững ở nông thôn. Vận động đóng góp công sức, tiền của. xây dựng, nâng cấp các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn .... Vận động cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký và phấn đấu có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hoá; tham gia xây dựng thôn, làng, xã văn hóa; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; Thực hiện nếp sống văn minh tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội; tham gia thực hiện chương trình nâng cao dân trí bồi dưỡng nhân tài, giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. thực hiện tốt hương ước, quy ước thôn, làng văn hóa và các quy định của địa phương. và tham gia cuộc vận động “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, xây dựng thôn, làng, xã kiểu mẫu

2. Tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ để kích động, lôi kéo,chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phối hợp với lực lượng quân sự, công an, tích cực tham gia xây dựng thế trận an ninh quốc phòng toàn dân. Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân hăng hái tham gia dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, "chính sách hậu phương quân đội". góp phần giữ vững Quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội ở địa phương.

IV. Vai trò, trách nhiệm của Hội với xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh

1. Tổ chức dạy nghề và giới thiệu việc làm cho nông dân.

Hội tiếp tục phối hợp tchc đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Phát huy mô hình nông dân dạy nghề cho nông dân, người biết nghề dạy nghề cho người không biết. Tư vấn giới thiệu việc làm cho nông dân sau học nghề có việc làm đạt trên 80%; tạo điều kiện cho hộ nông dân tích tụ được ruộng đất để sản xuất hàng hóa tập trung, có trình độ cao.

2. Tham gia xây dựng, giám sát, phản biện cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Hội tham gia giám sát việc thực hiện cơ chế chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đồng thời nghiên cứu nắm bắt những bất cập trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân và xây dựng nông thôn mới để kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, sửa đổi ban hành phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nông dân.

V. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành quy định về việc “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền”; Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc “phối hợp giữa các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân”. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết TW 4, khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở, kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực, xâm phạm quyền dân chủ của nông dân phản ánh với cấp ủy, chính quyền xử lý. Quan tâm phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, hội viên ưu tú để các cấp ủy Đảng xem xét kết nạp vào Đảng.

Tự hào với truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam trong suốt 88 năm phấn đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng; Hội Nông dân xã Thiệu Lý tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, khắc phục khó khăn, thách thức, phấn đấu vươn lên thực hiện tốt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong nhiệm kỳ mới, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân trong xã thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN XÃ THIỆU LÝ NHIỆM KỲ 2012 - 2018

Từ khóa bài viết: